Thỏa thuận thương mại EU-ASEAN: Hóa giải những điều chưa rõ về quy tắc xuất xứ

Phán quyết mới đây của Tòa án Công lý châu Âu, theo đó xếp Thỏa thuận Thương mại tự do giữa EU và Xin-ga-po (EUSFTA) là một thỏa thuận hỗn hợp, cần có sự phê chuẩn của các quốc gia thành viên EU để chấm dứt những đồn đoán về quy trình phê chuẩn đối với hiệp định thương mại này.

Với tư cách là FTA đầu tiên được đàm phán sau khi Hiệp ước Lisbon có hiệu lực, EUSFTA được nêu ra trước Tòa án Công lý châu Âu để làm rõ liệu Ủy ban châu Âu có thể tự mình phê chuẩn Hiệp định này mà không cần có sự chấp thuận của các nước thành viên EU hay không.

Trừ những quy định về danh mục đầu tư và giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, Tòa án đã khẳng định tất cả chương của Hiệp định thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Bru-xen và Bru-xen có thể tự thông qua mà không cần sự phê chuẩn của các nước thuộc EU.

Khi châu Âu lên tiếng về giá trị của các quyết định và thỏa thuận thương mại liên quan đến việc khôi phục lại sự tín nhiệm về chính sách thương mại của khối, quá trình xem xét triển khai các cuộc đàm phán về EUSFTA vào năm 2010 là để mở đường cho việc từng bước hình thành thỏa thuận giữa hai khu vực EU và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sau gần hai năm đàm phán ở cấp độ khu vực nhưng không đạt kết quả.

Quy tắc xuất xứ mềm dẻo

Phần quy tắc xuất xứ trong EUSFTA (ROOs) dài 96 trang, tuy vậy, lại dẫn đến những bất định liên quan đến lợi ích mà Hiệp định mang lại cho Xin-ga-po; đồng thời đặt ra câu hỏi về khả năng áp dụng vào thực tế khi những quy định này trở thành hình mẫu trong thỏa thuận giữa EU và ASEAN trong tương lai. ROOs được thiết kế nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa và dịch vụ có nguồn gốc từ các nước đối tác được quy định trong FTA mới được hưởng lợi ích do Hiệp định đem đến; điều này giúp ngăn chặn tình trạng gian lận trong xuất xứ. Thông thường, quy tắc xuất xứ chỉ áp dụng cho một sản phẩm khi nó đáp ứng một trong ba tiêu chí: thay đổi về mã hàng hóa (ví dụ, nhập khẩu cà chua và xuất khẩu xốt cà chua), giá trị gia tăng áp dụng cho sản phầm và cuối cùng là quy trình chế biến. Trong khi các thỏa thuận thương mại có sự tham gia của EU áp dụng quy định rất chặt chẽ liên quan đến việc yêu cầu sản phẩm có thành phần nội địa hóa cao và đáp ứng nhiều chứng nhận về tiêu chuẩn (yêu cầu hàng hóa phải đáp ứng từ hai trở lên trong số các tiêu chuẩn đã nêu), thì ROOs trong EUSFTA không đáng ngại như tưởng tượng.

EU ước tính EUSFTA sẽ nâng GDP và xuất khẩu của Xin-ga-po lên lần lượt là 3 tỷ đô la (0.94%) và 4 tỷ đô la (10.4 %). Tuy nhiên, một số ý kiến nghi ngờ cho rằng Xin-ga-po, quốc gia thiếu hụt nguyên liệu nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu sẽ đối mặt khó khăn khi đáp ứng yêu cầu về xuất xứ đã được quy định trong Hiệp định. Phân tích sâu hơn nội dung của FTA cho thấy nỗi lo đó dường như đã đặt nhầm chỗ.

Đầu tiên, theo EUSFTA, EU đồng ý nâng tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu trong hàng xuất khẩu của Xin-ga-po lên con số giao động từ 40% đến 60%, trong khi mức tối đa áp dụng cho các nguyên liệu không có nguồn gốc bản địa theo các thỏa thuận trước đây có sự tham gia của EU chỉ từ 39% đến 50%. Nhằm làm rõ hơn sự mềm dẻo liên quan đến yêu cầu về việc sử dụng nguyên liệu bản địa đối với hàng hóa xuất khẩu, số liệu cho thấy bình quân tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu trong tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu Xin-ga-po trong giai đoạn 2001 và 2011 là 39%. Nhận thức được vai trò của Xin-ga-po như một quốc gia thương cảng mở, để tái xuất khẩu hàng hóa nhập khẩu, Xin-ga-po cần đóng góp thêm 10% thành phần nội địa vào những sản phẩm này. So sánh mức lương cao tại Xin-ga-po với giá hàng hóa  nhập khẩu, những yêu cầu này có thể được đáp ứng dễ dàng.

Với những hàng hóa được coi là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Xin-ga-po như dược phẩm, hóa dầu và điện tử, EUSFTA cũng áp dụng quy tắc tương tự nhằm giúp các nhà sản xuất của Xin-ga-po có thể dễ dàng vận dụng được phương pháp xác định nguồn gốc sản phẩm để đáp ứng yêu cầu nêu ra trong Hiệp định. Hơn thế, một danh sách cụ thể các sản phẩm hoàn thiện và nguyên liệu bổ sung đối với các ngành công nghiệp (ví dụ như xăng dầu, ga, máy chỉnh lưu, thiết bị cách điện) có nguồn gốc từ các quốc gia ASEAN cũng được tính vào tỷ lệ thành phần nội địa trong các sản phẩm xuất khẩu của Xin-ga-po.

Những trở ngại tiềm ẩn đối với Hiệp định thương mại tự do EU-ASEAN là gì?

Vấn đề ROOs không tệ như những gì một số người lo ngại về EUSFTA. Tuy vậy, nếu FTA giữa ASEAN và EU áp dụng những quy định tương tự về xuất xứ đối với từng loại sản phẩm như nội dung quy định trong FTA giữa Xin-ga-po và EU thay vì những tiêu chuẩn đơn giản và mang tính phổ quát về ROOs như trong các FTA ASEAN đã ký với các quốc gia khác – liệu các quốc gia đang phát triển trong ASEAN với thể chế yếu có đủ khả năng để quản lý, thực thi việc xác định và chứng nhận xuất xứ hàng hóa hay không?

Mối bận tâm này có thể dễ dàng được hóa giải bởi thực tế là các quốc gia ASEAN đã có hàng thập kỷ kinh nghiệm trong việc đáp ứng các yêu cầu ROOs của EU do khối này áp dụng một chương trình tự do hóa thương mại thống nhất, chương trình Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), được công bố vào năm 1971. Ngoại trừ Xin-ga-po, Bru-nây, Malaysia và Thái Lan đã không còn thuộc trường hợp được ưu đãi thuế quan, các nước khác như Indonesia, Phi-líp-pin và Việt Nam vẫn đang xuất khẩu hàng hóa vào EU với mức thuế được giảm; trong khi đó, Campuchia, Lào và Mianma đang hưởng lợi từ việc áp dụng GSP ở mức rất ưu đãi theo chương trình “Tất cả hàng hóa trừ vũ khí” (EBA).

Tuân thủ hàng loạt các quy định chặt chẽ và phức tạp liên quan đến ROOs đối với hầu hết các lĩnh vực và từng loại sản phẩm không phải là nhiệm vụ dễ dàng, tuy nhiên phần lớn các quốc gia ASEAN đã đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ và thành công trong việc hưởng lợi ích khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này. Ví dụ, trong 6 tháng nửa đầu năm 2015, 95.4% hàng xuất khẩu từ Lào đáp ứng được các yêu cầu theo chương trình EBA đã vào được thị trường EU mà không phải chịu bất kỳ thuế suất và hạn ngạch nhập khẩu nào. So sánh với cùng thời điểm trong năm 1997 và 2000, con số này chỉ dừng lại ở mức lần lượt là 19% và 41%.

Quy tắc xuất xứ không nên là mối bận tâm đối với ASEAN

Việc các sản phẩm được hưởng ưu đãi GSP/EBA với tỷ lệ cao và ngày càng tăng cho thấy trình độ của các cơ quan hải quan và tổ chức chứng nhận xuất xứ tại các quốc gia ASEAN đã được nâng cao; tỷ lệ này cũng bác bỏ những ý kiến cho rằng sự phức tạp của cơ chế hành chính được nêu tại FTA EU-ASEAN trong tương lai sẽ làm khó các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Sự thật là ASEAN có thể được thúc đẩy để áp dụng ROOs theo tiêu chuẩn châu Âu vì hai lý do:

Đầu tiên, các quy định về ROOs chi tiết và rõ ràng có thể làm giảm nguy cơ phải thực hiện biện pháp giải thích pháp lý về nội dung các Điều khoản đã được đàm phán và sự không đồng nhất của các quy định hành chính. Việc không thống nhất về cách giải thích các quy định của FTA ASEAN – EU có thể dẫn đến việc áp dụng ROOs khác nhau tại các nước ASEAN, và cuối cùng là giảm những lợi ích do cắt giảm thuế từ việc không thống nhất mang lại. Áp dụng dạng thức ROOs theo mô típ EU sẽ làm giảm sự không chắc chắn trong việc tận dụng hiệu quả hoạt động tự do hóa thương mại.

Hai là, trong khi ROOs có xu hướng buộc các công ty phải áp dụng phương pháp tính toán thành phần nguyên liệu trong hàng hóa thành phẩm một cách phức tạp và tốn kém để được hưởng ưu đãi thuế quan, những điều này giúp hỗ trợ việc phát triển chuỗi cung ứng gắn kết trong khuôn khổ của FTA để đảm bảo các hoạt động mang lại giá trị gia tăng thấp bị loại trừ khỏi ưu đãi. Những yêu cầu nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của EU cũng tương thích với chiến lược liên kết khu vực của ASEAN, đồng điệu với mong muốn của Cộng đồng kinh tế ASEAN trong việc hình thành nền tảng sản xuất chung của toàn khối.

Tuy nhiên, ASEAN chỉ có thể tận dụng được cơ hội vừa nêu nếu khối này tham gia một Hiệp định thương mại tự do với EU. Sau khi đạt được những FTA với một số quốc gia thuộc ASEAN nhằm hướng tới một hiệp định chung cho toàn khối trong tương lai, Bru-xen sẽ nhanh chóng kết thúc các cuộc thảo luận về các hiệp định tương tự với Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Sau tất cả, EUSFTA sẽ là nhân tố chủ đạo trong việc xây đắp một Hiệp định chung cho toàn khối trong tương lai gần.

Nguồn: Brinkasia-LA

Liên kết website